Tiếp theo “Cánh đồng tiềm thức”, Thầy Bính cho ra cuốn “Cánh đồng thao thức”.
ên gọi của hai cuốn sách này gợi ý cho tôi tìm hiểu mối liên quan, con – đường – qua – lại giữa hai miền này của sự nhận thức, là cái động lực hiển nhiên và muôn đời bí ẩn của người sáng tác. (Chó hoang theo ta – bí ẩn ư/ Thiên căn nhỏ giọt đến tận cũng – bí ẩn ư? – “Cánh đồng tiềm thức”)
Công việc tìm hiểu này đích thực là công việc của người phê bình và khi đó ngòi bút của anh ta mới đồng thời phát huy được xúc cảm – cảm thụ cũng như không bị phụ thuộc vào nó.
Với “Cánh đống tiềm thức” những điều muốn nói thì có rất nhiều, nhưng mãi tôi không nói ra được cái gì cả. Đọc lại Lời giới thiệu “Thơ của Thầy Bính” cho cuốn “Tiếng thờ đêm” tôi cũng không hiểu trời xui đất khiến thế nào tôi viết ra những dòng xúc cảm và công phẫn đến vậy (…trong ông không có cái cao kiến hóa thân làm kẻ khác trước khi làm chính mình: …có những nhà thờ “thường thường bậc trung” lại thương bố thương mẹ mình với cung cách của một triết gia, có những thị dân nói bằng giọng của bậc khai quốc, những kẻ sơ cơ hậu học lại lên tiếng khai thị cho quân chúng như những nhà hiển minh…).

Tôi đang lập luận theo cách thức so sánh, theo tư duy phân biệt “cái cốc không phải là cái chén” (cái cốc là cái cốc vì nó không phải là cái chén, nó không phải là cái bát, cũng không phải là cái thìa…). Tại sao không đơn giản chỉ “cái cốc là cái cốc”. Tôi không can tâm trong chuyện so đo này một lần nữa. Tôi muốn khẳng định: Thơ ông Bính là thơ ông Bính! Bằng cách nào? Dường như bằng lời thì không ổn. Thậm chí tôi còn định lập một cuốn “cẩm nang hình ảnh”… bằng hình ảnh! (Nhân gian cô cậu thò lò/Cành đào may mắn tộc mệch/ Hồn nắng vỗ cánh/ Giọt cười thành thực chầu môi).
Nhưng sang đến “Cánh đồng thao thức”, thì tôi lại trông thầy LỜI
Tia chớp – cơn dông, huy hoàng – ảm đạm
Khoảnh khắc tình yêu bỗng thốt nên LỜI
(Chữ lời trong câu thơ trên)
Tôi đã viết câu: “Cái tôi…là một thực thể được xác lập, đồng thời là một thực thể tồn tại sống động… Ông Bính làm thơ là để nuôi dưỡng cái thực thể sống động này”
(Chữ được xác lập theo nghĩa của các câu thơ sau:
Tôi tiêu tốn một mình tôi
Tôi tiêu tốn cả một đời mẹ cha (t.g)
Cũng như Thầy Bính viết:
Bản ngã không từ trời rơi xuống
Nhân tâm đâu từ kẻ lạc loài
Cái tôi – bản ngã phải trừ bỏ dần dần là cái tôi “giả định”, còn cái tôi thực cảm (chữ trong bài “Viếng Anh Đào Phương”) là cái tôi mà mẹ cha ta đóng góp ta cho đời để hồn nhiên sống động “Ta đi tới”. Tôi có một lòng kính trọng sâu sắc đối với những người làm thơ. Làm thơ là đã bước một bước chân trên con đường tự giác ngộ. Không ai không bắt đầu tự vấn “ý nghĩa”…
Lơ lửng hình bóng đầu tiên
– mệnh đề con đường Nước Lửa
Hiểu biết kết đôi chân sức mạnh
Hoài nghi theo chân
Ngớ ngẩn thông minh
cùng hỏi
(Tín hiệu – Cảnh đồng tiềm thức)
Con người “khởi đầu vốc nước bát cơm thanh ” (chữ trong bài…), nhưng sau đó bắt đầu một cuộc trăn trở. Thầy Ngô Xuân Bính là một võ sư, một họa sỹ, một giáo sư y học*. Không đáng tò mò sao để biết được vị hành giả chân chính này nói gì?
Thời tôi còn học phổ thông soạn bài đầu tiên cần tìm đại ý. Như tên gọi, nếu “Cánh đồng tiềm thức” thiên về trăn trở nội tâm, ở đó ta nhìn con người ở bình diện “toàn nhân loại” với những mâu thuẫn nội tại nhiều tính chất “cổ mẫu, thì “Cánh đồng thao thức” chính là thái độ sống, hiện thực sống, kết quả của sự từng trải, màu sắc kinh nghiệm .
Mở trang đầu tiên của cuốn “Cánh đồng thao thức” tôi đã bàng hoàng. Đây chính là “hồn thiêng khí phách của một dân tộc quật cường ” (lời giới thiệu sách ” Nhất Nam Căn bản tập 4 – Thiết côn -Chiết giải )
Chung! Chung! Chung! Chung! Ta nhớ Mi
Nhớ bài “ Trường xà”ngẩng“Đầu xà ”
Gồng thân ngẩng đỉnh thanh cao quý
Ngã gối đầu mây mặt nở hoa
Thái ngự trên trăm ngàn nương rẫy
Dao mộc chém ngang đạp lũng đà
(Ngọn Chung linh – cánh Đồng tiềm thức)
… …
Tĩnh bình nguyên khối chắc như vạc
Căng phồng dao chém- lửa hun đồng
Thanh bạch- tay rám- chân trầy trật
Mơ ngày- mơ đêm- đất cấy trồng
Giơ mười ngón tay cao lên trời
Như mười nén hương thắp đỏ trời
Vái ông xin hứa lời muôn một
Đất vỡ hoang-mầm non đâm chồi
(“Đêm núi Thiên Lũng ”, kính viếng hương hồn Thầy – Cánh đồng thao thức)
Nói theo phê bình cổ mẫu thì đây là môtip anh hùng. Sự thiếu vắng hùng khí, hào khí dân tộc trong văn học ta lâu nay (cũng tương tự ở một số nền văn học khác) là tiếng chuông báo động – không phải cho văn học, mà trước hết chính là cho con người thời đại. Như vậy, sự hiện diện này – tôi muốn nhắc lại ở đây câu cảm thán của Tiến sỹ sử học Nguyễn Ngọc Trường – quả là: “May thay! Quý Thay!” (Lời giới thiệu sách Nhất Nam Căn Bản tập 3 – Dưỡng sinh – Khí nội dịch).
Chợt nhớ một câu thơ khác của Thầy mà thấy đau lòng “kẻ có trí – yêu khí / kẻ có tâm – nhược suy”….

Những câu thơ thần khí không cần lời bàn thêm, tôi chép ra đây chỉ để nhắc lại một điều rằng: Thơ của ông Bính là thơ của ông Bính. Người ta không thể dùng thủ pháp nghệ thuật mà làm ra thần khí ví như một ông tướng trên sân khấu tuồng dù hao hao giông giống nhưng cũng không sao làm như một ông tướng trong đời thực. Tôi những muốn các nhà toán học, các nhà khoa học lỗi lạc của đất nước cũng làm thơ… tôi những muốn các bậc lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng làm thơ…
Giá mà họ cũng làm thơ!
Họ sẽ nói gì?
Bạn Thục Anh trong bài báo của mình chân thành thốt lên “không hiểu ông lấy đâu ra thời gian và sức lực để làm một lúc từng ấy việc? ”
Ông Bính trả lời “Những gì ta đi, ta thấy… đến một lúc không thể không viết ra được, cũng như không thể không cầm cọ để vẽ… ”
Còn nữa…
